AGO-OVAR 27- WoO

AGO-OVAR 27 - WoO

WoO: Nghiên cứu về cơ hội điều trị bằng Olaparib và Durvalumab trong ung thư buồng trứng đã được xác nhận bằng mô học.

Nhóm A của nghiên cứu AGO-ovar 27 đã hoàn tất tuyển chọn bệnh nhân từ tháng 1 năm 2025. Việc tuyển chọn bệnh nhân cho nhóm B hiện đang được tiến hành.

Cơ hội vàng – AGO-OVAR 27 là một nghiên cứu khả thi giai đoạn II không ngẫu nhiên, nhãn mở, điều tra việc sử dụng olaparib đơn trị liệu (nhóm A) hoặc kết hợp với durvalumab (nhóm B) trước khi phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát bệnh nhân ung thư biểu mô buồng trứng (EOC) độ cao đã được xác nhận về mặt mô học.

Nghiên cứu này đang điều tra vấn đề gì?

Đây là một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II không ngẫu nhiên, nhãn mở, nghiên cứu tính khả thi của việc điều trị bằng olaparib đơn trị liệu hoặc kết hợp với durvalumab trong khoảng thời gian giữa chẩn đoán nghi ngờ hoặc nội soi ổ bụng chẩn đoán và phẫu thuật chính để cắt bỏ khối u. Hơn nữa, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định liệu những thay đổi trong hồ sơ DNA khối u lưu hành (ctDNA) trong giai đoạn điều trị này có phù hợp để dự đoán liệu pháp nhắm mục tiêu cho từng bệnh nhân hay không.

Nghiên cứu này đang điều tra vấn đề gì?

Đây là một thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II không ngẫu nhiên, nhãn mở, nghiên cứu tính khả thi của việc điều trị bằng olaparib đơn trị liệu hoặc kết hợp với durvalumab trong khoảng thời gian giữa chẩn đoán nghi ngờ hoặc nội soi ổ bụng chẩn đoán và phẫu thuật chính để cắt bỏ khối u. Hơn nữa, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định liệu những thay đổi trong hồ sơ DNA khối u lưu hành (ctDNA) trong giai đoạn điều trị này có phù hợp để dự đoán liệu pháp nhắm mục tiêu cho từng bệnh nhân hay không.

Mục đích của nghiên cứu này là gì?

Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tính khả thi của việc điều trị bằng olaparib đơn độc hoặc kết hợp với durvalumab trong khoảng thời gian giữa nội soi chẩn đoán và phẫu thuật cắt bỏ khối u ban đầu. Hơn nữa, nghiên cứu sẽ xem xét liệu những thay đổi trong hồ sơ ctDNA trong giai đoạn điều trị này có phù hợp để dự đoán liệu pháp nhắm mục tiêu cho từng bệnh nhân hay không.

Quy trình nghiên cứu như thế nào?

Nghiên cứu này sẽ được tiến hành độc quyền tại các địa điểm thử nghiệm ở Đức. Sáu mươi bệnh nhân (30 bệnh nhân mỗi nhóm) sẽ được tuyển chọn. 30 bệnh nhân đầu tiên trong nghiên cứu này sẽ được điều trị bằng olaparib đơn trị liệu (nhóm A) trong khoảng thời gian giữa nội soi chẩn đoán và phẫu thuật cắt bỏ khối u nguyên phát. 30 bệnh nhân tiếp theo sẽ được điều trị bằng olaparib kết hợp với durvalumab (nhóm B).

Bệnh nhân được dùng olaparib dưới dạng viên nén bao phim để uống. Liều dùng là 300 mg (2 viên x 150 mg) hai lần mỗi ngày, vào buổi sáng và buổi tối. Thời gian điều trị đơn độc bằng olaparib ở nhóm A là 3 tuần. Thời gian điều trị kết hợp olaparib với durvalumab ở nhóm B là 4 tuần.

Bệnh nhân được truyền Durvalumab trong 60 phút qua đường tĩnh mạch trực tiếp vào điểm tiếp cận vào ngày đầu tiên của liệu pháp kết hợp kéo dài bốn tuần của nhóm B, với liều duy nhất 1500 mg.

Liệu pháp duy trì có thể bắt đầu sau khi hoàn thành hóa trị. Chỉ khi không có liệu pháp duy trì nào khác tuân thủ hướng dẫn thì bệnh nhân có kết quả BRCA và HRD âm tính mới có thể được điều trị bằng olaparib thử nghiệm để duy trì trong tối đa 24 tháng.

Bệnh nhân trong nhóm B có thể được dùng durvalumab như một loại thuốc thử nghiệm trong quá trình điều trị.
Trong giai đoạn hóa trị, Durvalumab có thể được sử dụng trong giai đoạn duy trì tiếp theo.
Được sử dụng kết hợp với olaparib hoặc dùng riêng lẻ như một loại thuốc thử nghiệm trong tổng thời gian tối đa 24 tháng.
Việc này sẽ được thực hiện nếu bệnh nhân đáp ứng đủ điều kiện.

Có rủi ro nào không?

Bạn sẽ được thông báo về những rủi ro hoặc tác dụng phụ có thể xảy ra khi tham gia trong cuộc họp thông tin.

Điều khoản và điều kiện tham gia

Phụ nữ từ 18 tuổi trở lên có thể tham gia nghiên cứu này.

  • Bệnh nhân nghi ngờ mắc ung thư buồng trứng giai đoạn tiến triển, dự kiến ​​sẽ được nội soi ổ bụng để chẩn đoán mô học và lập kế hoạch điều trị.
  • Những người sẵn sàng và có khả năng cung cấp mẫu sinh thiết khối u từ nội soi chẩn đoán và phẫu thuật chính để loại bỏ khối u.
  • với chức năng các cơ quan và tủy xương đầy đủ và huyết áp bình thường
  • với tình trạng hoạt động ECOG (chỉ số chất lượng cuộc sống của Nhóm Hợp tác Ung thư phía Đông) từ 0-1

Ngoài ra, còn có một số tiêu chí khác cần đáp ứng để tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân quan tâm nên liên hệ với bác sĩ nghiên cứu tại trung tâm nghiên cứu để được xác định xem họ có đủ điều kiện tham gia nghiên cứu này hay không.

Tôi có thể tham gia nghiên cứu ở đâu?